Akii's posts with tag: truyen ngan
1. Anh có yêu em bằng yêu vợ anh? Khi tôi biết rằng tôi yêu Thăng thì chàng đang có với vợ chàng hai đứa con kháu khỉnh, cùng một người tình chàng đang theo đuổi là tôi. Ba người chúng tôi chạy theo nhau sát nút. Vợ chàng giữ chân chàng, trong khi chàng lại rượt đuổi theo tôi. Đối với tôi, chàng đang từ từ say mê đến đắm đuối. Tôi xúc động vì tình cảm chàng dành cho tôi. Nhưng tôi lại ấm ức và lấy làm bận tâm vì không một giây phút nào chàng quên vợ chàng. Có nghĩa là chàng yêu vợ và yêu tôi cùng một lúc, cùng một cường độ. Và éo le thay, có thể cùng một nồng độ, vì có lần chàng đã nói với tôi: “Em à, cách nói chuyện của em giống vợ anh như hai giọt nước. Anh yêu cả hai hết sức. Nhiều khi anh tưởng vợ anh và em là một!” Tôi giật mình hỏi lại: “Như thế là anh yêu em vì em giống vợ anh? Tại sao anh lại yêu hai người giống nhau cùng một lúc nhỉ? Anh phải chọn một thôi chứ. Khác nhau thì yêu, chứ giống nhau, yêu làm gì cho... khổ hở anh? Mất công giấu giếm, mất công lén lút và mất công phải nằm mơ những... hai lần?” “Ồ, em không biết đấy thôi. Anh không bao giờ nằm mơ thấy em, hay thấy vợ anh. Vì nàng thì ở nhà với các con, còn em thì ở những chỗ mà nàng không biết được . Hai người, hai môi trường sống, hai phong cách sống, tuy có nhiều điểm giống nhau, nhưng trộn cũng không lẫn em ạ! Này nhé! Vợ anh yêu anh, săn sóc cho anh, quan tâm đến đời sống vật chất của anh như cơm ăn, áo mặc, những gì dính líu đến con người của anh. Còn tình yêu thì nàng chắc như đinh đóng cột rằng anh chỉ yêu và dành tình yêu đó cho một mình nàng. Nàng không bao giờ nghi ngờ anh điều gì. Còn em, ngượïc lại, em không phải bận tâm về những chuyện cơm ăn, áo mặc của anh, cùng những ràng buộc quanh anh. Em chỉ cốt làm sao có thật nhiều tình yêu và thì giờ với anh. Câu mà em thường hỏi anh lúc nào cũng là: “Anh còn yêu em nhiều không? Yêu bằng yêu vợ anh ở nhà không?” Lẽ tất nhiên không bao giờ anh trả lời thẳng vào câu hỏi của em, mà anh chỉ né tránh bằng câu trả lời đại khái: “Nhiều chứ sao lại không?” Còn có bằng yêu vợ ở nhà không, thì anh còn phải mượn cân tiểu ly mới trả lời em được, bởi vì nói có Trời có Phật, anh yêu cả hai người bằng nhau.” “Em không chịu, vì đàn bà chúng em chỉ được xã hội và luân lý cho yêu có một ông. Còn ông nữa, đi chỗ khác chơi. Bất công, thậm bất công!” “Đúng rồi. Anh đã từng nói với em rằng người đàn ông yêu những người đàn bà chứ không phải yêu một người đàn bà, vì thế mới có chuyện một ông yêu năm, bẩy người đàn bà cùng một lúc, vì mỗi người mang mỗi nét riêng làm rung động lòng ông ta.” “Thôi, đủ rồi. Anh đừng nói nữa. Đừng biện luận vòng vo để đi đến kết luận anh chỉ yêu em bằng yêu vợ ở nhà.” Tôi vùng vằng, hai bàn tay ôm kín hai tai, ra cái điều rằng tôi chẳng muốn nghe con người bay bướm, lãng mạn, hào hoa của chàng nói nữa. Vì chàng nói ít, tôi buồn ít. Chàng nói nhiều, tôi buồn nhiều. Chàng không nói gì, tôi lại càng buồn, càng đau, càng thấm thía hơn. Tôi đã từng nắm tay, giậm chân nhủng nhẳng với chàng: “Anh không nói gì với em phải không? Anh ghét em rồi phải không? Anh để dành hơi, dành lời chỉ để nói với vợ anh phải không? Em chết cho anh coi!” Tình thế này bắt buộc chàng phải mở miệng. Chàng thao thao bất tuyệt: “Trời ơi, em còn bắt anh phải nói làm sao nữa? Bao nhiêu công việc, bao nhiêu lo âu, bao nhiêu phiền toái. Em đã không chia sẻ, còn làm rối rắm thêm. Nội việc mỗi ngày dành ra vài giờ gặp gỡ em, yêu quý em, thương yêu em, cũng làm cho anh phải suy nghĩ, tính toán sao cho vợ anh khỏi nghi ngờ. Nàng tin tưởng anh tuyệt đối, không có nghĩa là anh muốn làm gì thì làm. Muốn tung hoành ngang dọc gì cũng được. Nhưng mỗi khi gần nhau, thay vì dành hết thời gian để yêu nhau, em cứ hạch sách anh cái này, tra khảo anh cái kia.Trong khi vợ anh ở nhà, nàng còn biết nói với anh rằng… ...” “A, anh so sánh em với vợ anh ở nhà phải không? Bì sao được? Vợ anh được anh tất cả. Tình yêu, thời gian và không gian. Còn em, được cái gì ở anh? Anh nói em nghe đi! Nói em nghe cho thuận tai đi!” Tôi giậm chân đùng đùng, tôi nắm bàn tay nọ đấm vào bàn tay kia cho chết luôn. Tôi trách bàn tay không về phe với tôi để dành chàng cho tôi và để lúc nào tôi cũng có chàng. Tôi nhìn quanh mình, chỉ thấy một nỗi cô đơn bao la, ngút ngàn. Biển xanh một mầu. Hải đảo xa xôi. Tình tôi với chàng chới với sóng bạc đầu! Chàng lại ngập ngừng: “Em biết không? Tình yêu với em, anh xem như một phần thưởng cao quý trời thưởng công cho anh sau bao năm sống đàng hoàng, đạo hạnh và lương hảo với đời. Khi mới gặp, anh không nghĩ là anh sẽ yêu em, yêu cô bé con mà anh không hề để ý đến. Cũng không bao giờ anh nghĩ rằng sẽ có ngày anh phải dối vợ để đi với em, phải chia tình yêu mà anh đã thề rằng chỉ dành cho mỗi một mình nàng. Phải đôi mắt láo liên nhìn chung quanh mỗi khi gần em. Phải cố gắng thản nhiên sau khi về nhà gặp vợ con. Nghĩa là em là những gì anh không ngờ anh có được. Tình yêu với em tự nhiên đến và ngang nhiên chễm chệ hiện diện. Chẳng hỏi han và cũng chẳng cần anh có đồng ý hay không. Vì nó biết rằng nhất định anh sẽ đồng ý. Bởi vì em dễ thương quá, em đáng yêu quáù. Mà đàn ông như anh, trướùc nét đẹp tinh thần dễ thương và đáng yêu của em, thì không thể nào anh cầm lòng mà không đưa tay nắm bắt được. Vả lại, anh nghĩ rằng trong cuộc sống bon chen, trong cuộc đời ngắn ngủi phù du, mấy ai trong chúng ta bắt gặp được những nét đẹp tinh thần đó.” Tôi tham lam và luôn đòi hỏi chàng phải yêu tôi thật nhiều, thật nồng nàn, thật say đắm như tình yêu của một thiếu nữ tuổi đôi mươi và như của một người vừa mới bước chân vào ngưỡng cửa tình yêu. Tôi muốn chàng đưa tôi đi xem phim, đi chơi núi non, sông hồ, lang thang đây đó, cho tôi cảm giác rằng tôi và chàng đang hạnh phúc tuyệt vời. Tôi muốn chàng hẹn hò với tôi như hai người độc thân, trẻ tuổi yêu nhau. Tôi muốn chàng viết thư tình cho tôi mỗi ngày mỗi lá thư, thư mỗi ngày mỗi dài, tôi đọc hoài không hết. Tôi muốn chàng có đủ hai mươi bốn giờ đồng hồ cho tôi, còn dư lại mới dành cho vợ con chàng! Nghĩa là tôi muốn chàng phải yêu tôi bằng một tình yêu của người ngoài hành tinh! Ơ, mà ngươì ngoài hành tinh họ yêu nhau làm sao, tôi đâu đã biết. Tôi chỉ muốn chàng là của tôi. Luôn luôn và mãi mãi. Con bé lãng mạn, hai mươi bốn tuổi này với tình cảm ướt át là tôi, với người đàn ông bốn mươi tuổi đầy nam tính kia là chàng, đến với nhau không chủ ý, yêu nhau không dự tính và mê đắm nhau không biết đến tương lai, cứ yêu nhau được ngày nào hay ngày ấy. Ngày mai sẽ ra sao, nào ai biết được? Tôi mong rằng sẽ không bao giờ cuộc tình ngang trái phải tan vì bàn tay phù thủy của vợ chàng. Nếu phải chia tay, tôi muốn nguyên nhân ấy phải do tôi hoặc do chàng. Nhưng trời ạ, riêng tôi, tôi giữ gìn tình yêu của tôi với chàng biết bao nhiêu. Giữ và trân quý như những gì ơn phước đã ban cho tôi. Biết là ngang trái, nhưng tôi không bao giờ muốn từ bỏ. Tôi bám vào tình yêu của chàng để sống còn, để thấy mình cũng yêu đương, cũng nhung nhớ, cũng khao khát tình yêu, cũng cần thiết tình yêu như cần hít thở khí trời. Phần chàng, tôi biết chàng cũng tha thiết yêu tôi, nhưng đồng thời chàng cũng yêu vợ chàng vô cùng. Nghĩa là giữa tôi và vợ chàng, nếu phải chọn lựa một trong hai người, chàng không biết chọn ai. Bởi vì chàng đã từng nhiều lần nói với tôi rằng tạo hóa sinh ra đàn ông để yêu đàn bà, chứ không phải để chỉ yêu duy nhất một người đàn bà. Tôi đã từng ấm ức, bất mãn, nổi giận đùng đùng khi nghe chàng nói câu này. Tôi vùng vằng, giận lẫy cãi với chàng: “Nếu vậy thì đàn bà cũng sinh ra để yêu đàn ông, chứ không phải để yêu duy nhất một người đàn ông. Anh nói như thế, anh có cho phép hôm nào em đến nhà, rủ vợ anh đi ra ngoài kiếm thêm vài người đàn ông nữa cho nàng và em không? Nếu anh chịu như thế thì em ... đầu hàng anh!” Chàng nghiêm mặt: ”Anh khác. Em khác. Không nói như thế được.” Tôi cao giọng trêu chọc chàng: “Anh ích kỷ nhé! Cho phép mìmh làm, nhưng người khác làm thì lại cấm cản nhé! Em đòi hỏi phải công bằng, không được phân biệt nam hay nữ. Cái gì anh làm được, thì em và vợ anh cũng làm được.” ”Bây giờ sao? Thì giờ gần nhau, em dành để tranh đấu cho quyền nam nữ bình đẳng phải không?” – Chàng đứng dậy – “Thôi, để em ngồi đây nói chuyện nam nữ bình quyền. Anh về ngủ một giấc cho khỏe, có sức để ngày mai làm việc.” Tôi hét lên chói tai: “Anh hay nhỉ? Nói chuyện nghe chơi, chứ em tranh đấu với anh hồi nào? Vấn đề do anh xướng lên. Rồi cũng chính anh dập đi, vì bất lợi. Anh đòi hỏi em chỉ được yêu một mình anh, trong khi anh cho phép anh yêu những hai người đàn bà là em và vợ anh. Anh độc đoán. Anh ích kỷ. Thế mà anh bảo là anh trọng lẽ công bằng? Nói chuyện với anh tức chết được!” Nhiều lần trong thương yêu, tôi đã băn khoăn hỏi chàng: “Tại sao anh rất yêu vợ, muốn một vợ một chồng, nhưng lại yêu em nữa nhỉ? Tham lam hay ưa mới, chuộng lạ?” Chàng nheo mắt nhìn tôi trêu chọc: “Em mà là “ưa mới, chuộng lạ” của anh hay sao? Có bao giờ anh thấy cái mới và cái lạ của em đâu? Gần nhau, giữ gìn từng phân da, tấc thịt, làm như anh là tù trưởng của bộ lạc ăn thịt người. Làm sao anh biết em mới và lạ như thế nào so với vợ anh? Bên em, anh say sưa ngây ngất cái duyên ngầm của em, em cho là anh quá đủ. Còn anh, anh vẫn thấy thiếu một cái gì. Yêu em kiểu này, có ngày anh tức tối mà chết mất. ” “Không. Anh không thể bị chết tức được. Người bị chết tức chính là em đây này. Em biết rất rõ rằng em yêu anh là do sự đưa đẩy và thôi thúc của vô thức. Không bao giờ em nghĩ rằng sẽ có ngày em yêu một người đàn ông có vợ như anh. Anh biết không? Bây giờ để tránh bị khủng hoảng, tình yêu của em dành cho anh đã được chuyển biến từ vô thức thành có ý thức. Ngày xưa, yêu anh nhưng em không biết là mình yêu. Bây giờ, em biết rất rõ em yêu anh, mà em còn biết rằng em yêu cái gì ở anh nữa cơ. Anh còn muốn gì nữa?” “Không. Thật tình anh không ước muốn gì nữa trong cuộc tình với em. Đủ rồi. Lộc bất khả hưởng tận em ạ. Anh ước ao sao dòng đời cứ xuôi chẩy như hôm nay và chúng ta được mãi mãi yêu nhau như thế này. Đòi hỏi gì nữa hở em?” Tôi siết nhẹ vòng tay quanh mình chàng. Cánh mũi phập phồng hít hơi thở thơm tho của chàng. Chúng tôi yêu nhau như thế đấy. Chỉ có chừng đó thôi mà cũng loay hoay, khổ sở, đòi đoạn, nhung nhớ. Ai bảo chàng có vợ trước khi yêu tôi làm gì? Ai bảo tôi đặt câu hỏi cho chàng khó trả lời: “Anh có yêu em bằng yêu vợ anh không? Em và vợ anh, nếu phải chọn lựa, anh chọn ai nào? Cấm anh không được chọn cả hai đấy nhé!”
| 1. Người Mỹ Già Homeless
Ở một ngã tư trên đường từ hãng làm về nhà mỗi khi ngừng xe chờ đèn xanh, mấy lúc gần đây tôi thường thấy một ông già người Mỹ đứng đó xin tiền, chờ khi đèn đỏ tất cả xe ngừng lại thì đi ngược theo đoàn xe dọc lề đường cầm một tấm carton có mấy chữ nguệch ngoạc trên đó: " I am hungry. Will work for food. God Bless " Những hình ảnh tương tự như vầy tôi vẫn hay thấy ở những ngã tư đèn xanh đèn đỏ rải rác trong thành phố, nên gần như tôi không chú ý gì tới người Mỹ già này. Một vài lần ngừng xe ở một ngã ba, ngã tư nào đó, khi thấy một người homeless nào đến gần xe tôi đậu, nhìn dáng vẻ khổ sở tôi cũng động lòng cho ông ta 1 dollar. Rồi thôi! Xe chạy và tôi không mảy may để ý gì tới người đó nữa. Người Mỹ già homeless này cũng vậy. Xe tôi chạy qua ngã tư này hàng ngày và đậu chờ đèn xanh không biết bao nhiêu lần rồi. Tôi nhìn thấy ông Mỹ này chắc cũng 5,7 lần gì đó… nhưng có bao giờ tôi để ý tới ông ta đâu và có lẽ sẽ chẳng bao giờ để ý đến ông cho tới một hôm…
Hôm đó là một ngày tháng Năm, như mọi lần tôi đậu xe ngay sát lề chờ đèn xanh, nơi ông già Mỹ đang đứng. Tháng 5 là mùa Hè ở Texas, trời rất nóng. Bên ngoài cũng khoảng 92, 93 độ F chứ không ít. Ông già Mỹ cũng vẫn cầm tấm carton giơ lên trước ngực. Trời nóng như vậy mà ông ta mặc một cái áo lính rằn ri 4 túi kiểu của quân đội Mỹ. Nhưng cái đập vào mắt tôi ngày hôm đó là, trên ngực áo của ông ngoài mấy phù hiệu binh chủng, còn có huy hiệu một lá cờ vàng ba sọc đỏ. Chính điều này làm tôi chú ý. Khi ông bước đến cửa xe, tôi không cưỡng được nên hạ cửa kiếng xuống móc ra tờ giấy 1 dollar đưa cho ông:
- Hello, hình như ông là cựu quân nhân?
Ông nhận tờ giấy bạc:
- Cám ơn ông. God Bless. Phải! Tôi là cựu quân nhân đã từng tham chiến ở VN trước đây. Ông là người Việt hả? Bắc Việt Nam hay Nam Việt Nam?
Tôi cười, nheo mắt với ông:
- Đúng. Tôi là người Việt. Nam Việt Nam chớ không phải Bắc Việt Nam.
Ông giơ một ngón tay cái lên, mĩm cười qua hàm râu quai nón xồm xoàm lâu ngày không cạo:
- God Bless you. Good! Good! NamViệt Nam tốt lắm.
Ông ta chào tôi và tiếp tục đi qua xe khác.
Chỉ có thế! Đèn bật xanh. Xe tôi lại chạy nhưng đầu óc tôi cứ lưu lại hình ảnh người Mỹ già này suốt con đường về nhà. Không hiểu tại sao một cựu quân nhân Mỹ lại sa vào cuộc sống khó khăn đến thế? Ở xứ này, người dân vẫn tôn trọng cựu quân nhân lắm mà? Lần đầu tiên tôi thắc mắc về một người homeless. Có lẽ chính vì cái huy hiệu lá cờ vàng ba sọc đỏ đeo ở trước ngực áo ông ta cứ lãng vãng trong đầu óc tôi hoài.
Hai hôm sau, cũng tại ngã tư quen thuộc. Tôi gặp lại ông Mỹ này vẫn đang mặc chiếc áo trận rằn ri đi tới khi tôi đậu xe chờ đèn. Tôi hạ kiếng xe xuống:
- Chào ông. Tôi có thể hỏi thăm ông một chút được không?
Ông già nhìn tôi với một thoáng ngạc nhiên:
- Chào ông. Được chứ. Ông muốn hỏi gì?
- Ở đây không tiện. Đèn xanh rồi, xe tôi phải đi ngay đây. Tôi sẽ qua cây xăng bên kia đường. Tôi gặp ông ở đó trong vài phút nữa. Được không?
- Được chứ. Được chứ. Tôi chờ ông bên đó nghe.
Tôi quay xe ngược trở lại và tắp vào cây xăng Shell bên kia đường nơi ông già Mỹ đang đứng chờ. Tôi xuống xe bắt tay ông:
- Chào ông. Tôi tên là Khanh. Tôi có gặp ông trước đây. Ông có nhớ tôi không?
Ông già Mỹ cười làm rung động hàm râu quai nón xồm xoàm. Gương mặt ông trông giống như một tài tử xi nê nào đó mà tôi đã có dịp xem qua:
- Chào ông Khaan (Ông chào tôi bằng tiếng Việt và phát âm tên tôi như 2 chữ Kha An ) Nhớ chứ, nhớ chứ. Ông là người Việt tôi gặp hôm trước đây mà… Nam Việt Nam.
Ông lại cười, giơ ngón tay cái lên khi nói đến chữ Nam Việt Nam và nói tiếp:
- Tôi tên là Bill. Ông muốn hỏi tôi chuyện gì.
- Ồ! Cũng không có gì quan trọng. Thật ra… thật ra…
Tôi bỗng trở nên lúng túng, ấp a ấp úng khi thình lình nhận ra chính mình cũng không biết tại sao lại muốn nói chuyện với ông già Mỹ này. Có lẽ một sự ràng buộc vô hình nào đó với cái phù hiệu ông ta đeo trên ngực áo đã khiến tôi không cưỡng lại được và có lẽ sự thắc mắc trong lòng hai hôm nay cộng với thời gian đứng chờ đèn xanh quá ngắn ngủi có thể sẽ bỏ lỡ một dịp may hỏi ông ta vài câu mà mình thắc mắc. Nhưng khi cơ hội đến thì mới biết là tôi đã chẳng chuẩn bị gì hết, vì thế đâm ra lúng túng. Cuối cùng tôi cũng nói lên được một câu:
- Tôi cũng là lính ở trong thời chiến tranh VN.
- Vậy hả! Tốt! Tốt! Anh cũng là cựu chiến binh chiến tranh VN hả. Tốt! Tốt!
Tôi nhìn gương mặt ông, thấy toát lên một vẻ rất chân thật khi nói lên câu trên. Hình như những hình ảnh về thời đi lính xa xưa ở VN vẫn còn để lại trong lòng ông nhiều kỷ niệm. Buổi chiều ở Round Rock mùa này trời nóng kinh khủng. Tôi chỉ mới đứng bên ngoài nói mấy câu với ông già Mỹ mà đã thấy khó chịu rồi. Vậy mà ông ta đứng ở ngoài trời cả ngày như thế thì thiệt là… Một thoáng xót xa dấy lên trong lòng tôi:
- Này Bill, ông có bận quá không? Nếu ông không bận, tôi muốn mời ông đi đến một nơi nào đó, chúng ta vừa ăn uống vừa nói chuyện. Được không?
- Không. Tôi không bận gì cả. Tốt. Tốt. God Bless.
Bill xách theo cái túi đeo vai đựng những vật dụng cá nhân của ông lên xe. Tôi chở Bill đi ngược lại đường May, con đường chính của thành phố Round Rock và sau đó rẽ trái qua đường 620:
- Mình ghé vào tiệm Fried Chicken phía trước được không?
- Tốt! Tốt. Fried Chicken ngon lắm.
Tôi nheo mắt nhìn Bill, cười:
- Nhưng ở đây không có bia đâu nhé.
- Không sao. Cám ơn ông. Ăn Fried Chicken tốt lắm rồi.
Chúng tôi ghé vào tiệm Golden Fried Chicken gần đó, gọi phần ăn cho hai người và chọn ngồi vào góc khuất trong tiệm. Buổi chiều giờ này quán còn vắng vẻ lắm. Không khí mát dịu của máy điều hoà bên trong làm tôi khoan khoái, dễ chịu hẳn lên sau khi vừa từ bên ngoài bước vào. Nhìn Bill làm dấu thánh giá trước khi ăn, tôi thấy ở ông toát ra một điều gì đó hiền hoà khác hẳn cái bề ngoài có vẻ "dữ dằn" qua quần áo, râu tóc rối tung của ông, tôi nói để bắt chuyện:
- Ông cứ ăn tự nhiên nhé.
- Tốt. Tốt. Cám ơn ông.
Vừa nhai ngồm ngoàm miếng gà chiên, ông vừa hỏi tôi:
- Khaan. Trước đây trong chiến tranh VN, ông đi binh chủng nào? Đóng ở đâu?
- Tôi hả? Tôi ở trong binh chủng Không Quân. Trước đây đơn vị tôi đóng ở Phan Rang. Tôi ở trong quân ngũ không lâu, chỉ từ 1972 cho đến ngày miền Nam nước tôi rơi vào tay CS miền Bắc. Còn ông?
- Tôi là lính Thủy Quân Lục Chiến sang VN năm 1966. Ở tại căn cứ Long Bình một thời gian. Sau đó đơn vị tôi chuyển ra Đà Nẳng và cuối cùng đóng tại Khe Sanh.
Ông vừa ăn vừa kể tôi nghe về một vài kỷ niệm ở VN trước đây, ông nói một vài tiếng Việt còn nhớ được với cách phát âm lơ lớ như những từ: "Chào ông, chào bà, chào cô… con gái VN đẹp lắm, nước mắm… đi đi…mau…cám ơn ông…"
Chúng tôi vừa ăn vừa nói cười thật cởi mở. Tôi cũng kể cho Bill nghe về đơn vị của tôi trước đây và một vài kỷ niệm vui thời lính tráng. Trong thoáng chốc, chúng tôi nói chuyện, cười đùa với nhau như hai người bạn hồi nào không hay. Bill kể tôi nghe thêm nhiều kỷ niệm về đời lính của ông và trận đánh ông tham dự lần cuối ở Khe Sanh:
- Trong trận đánh ngày 21 tháng Giêng năm 1968, tôi bị thương nặng và được đưa về bệnh viện Dã Chiến chữa trị tạm thời, sau đó họ đưa tôi về bệnh viện ở Đà Nẳng tiếp tục chữa trị. Cuối năm 1968, tôi được giải ngủ và về lại Mỹ.
Bill giở áo lên chỉ cho tôi thấy những vết sẹo còn để lại sau mấy ca phẩu thuật. Nhìn những vết sẹo dài còn để lại trên ngực và bụng của Bill, tôi có thể đoán vết thương của ông lúc đó chắc là ghê gớm lắm. Lấy tay chỉ chỉ vào những vết sẹo đó, ông nói:
- Những vết sẹo này từ năm 1968 đã là một phần cơ thể gắn bó thân thiết với tôi. Tôi tự hào đã có những vết sẹo này, tuy nhiên rất lấy làm tiếc là chúng ta đã không đạt được mục đích. Cái giá tôi trả và phần thân thể tôi để lại ở chiến trường VN đã không được đền bù xứng đáng. Tiếc thật!
Bill cho tôi biết trong lần bị thương đó, để cứu ông các bác sĩ quân y đã phải làm nhiều cuộc phẩu thuật lấy mảnh đạn trong người, cũng như cắt bớt và may vá nhiều khúc ruột. Ngoài ra các bác sĩ còn phải đặt một thanh sắt, bắt vít nối xương ống chân phải của ông.
Tôi nhìn gương mặt Bill, cặp mắt ông không biểu lộ một nét thù hận hay bực bội nào cả khi nói về những vết thương cũ! Hình như thời gian đã phôi pha và xoa dịu đi những đớn đau, mất mát mà ông đã trãi qua. Chúng tôi im lặng tiếp tục ăn, không ai nói với ai thêm lời nào nữa một lúc khá lâu. Có vẻ như Bill đang nhớ lại một vài kỷ niệm cũ trước đây. Tôi nghe thấy ông lẩm bẩm hai chữ Khe Sanh, Khe Sanh... vài ba lần trong khi đang ăn và đôi mắt ông hình như đang mơ màng về một cõi xa xăm nào đó. Đầu óc tôi ngập tràn nỗi xúc cảm không tả được. Trước mặt tôi là một người Mỹ già xa lạ. Một người mà nếu không có chiến tranh xảy ra ở đất nước tôi, có lẽ ông ta sẽ không hề biết tới VN là gì, nói chi tới những địa danh như Long Bình, Đà Nẳng, Khe Sanh… vậy mà cho tới bây giờ, sau mấy chục năm ông vẫn còn nhớ và phát âm khá chuẩn tên những địa danh này bằng tiếng Việt. Chiến tranh đã tình cờ mang ông đến với một quốc gia có cái tên gọi Việt Nam nghe thật xa lạ, nơi ông đã chiến đấu để bảo vệ lý tưởng Tự Do cho người dân nơi đó và ngay cả đã hy sinh xương máu cho một đất nước mà trước đó ông không hề biết tới. Trước mặt tôi, người Mỹ đó giờ đây lại là một người không nhà cửa, sống một cuộc sống lây lất không có ngày mai. Còn tôi, một kẻ tị nạn đang ăn nhờ ở đậu nơi xứ sở của chính ông, lại là người may mắn hơn ông nhiều. Ít ra tôi có được một ngôi nhà xinh xắn, một mái ấm gia đình, một công việc đàng hoàng và con cái tôi đang thọ hưởng nền giáo dục tốt đẹp nơi xứ sở của ông… Tôi không thể nào ăn được nữa, một điều gì đó đang dâng lên trong lòng khiến tôi nuốt không vô nữa:
- Này Bill. Tôi có thể hỏi ông một vài câu liên quan tới cá nhân ông được không?
Bill ngước mắt lên nhìn tôi, ngạc nhiên:
- Cá nhân tôi? – Ông cười – Cá nhân tôi thì đâu có gì đâu mà không hỏi được.
- Sau khi ông giải ngũ, ông đã làm gì? …và tại sao …tại sao ông lại trở nên… thế này? Xin lổi Bill. Ông không cần phải trả lời câu hỏi này, nếu ông không thích. – Tôi hỏi và cảm thấy không được tự nhiên lắm với câu hỏi đường đột này –
Với tay lấy tờ giấy napkin lau miệng, Bill cười:
- Ồ! Không sao cả. Lâu lâu có dịp ôn lại chuyện cũ cũng thú vị lắm. Ông hỏi tôi sau khi tôi giải ngũ hả?? Tôi làm lặt vặt một vài việc để kiếm sống rồi quyết định quay lại college lấy cho xong bằng 2 năm, sau đó vào làm việc cho một hãng chế biến đồ nhựa. Tại đây tôi gặp một người đàn bà và sau một thời gian quen biết đã kết hôn với người này. Năm đó là năm 1974 và lúc đó tôi đang ở Houston. Vợ chồng chúng tôi có một đứa con gái và sống hạnh phúc lắm. Nhưng sau 6 năm chung sống hạnh phúc, sóng gió bắt đầu nổi lên khi tôi bị laid off. Những cuộc cãi vã xảy ra, ban đầu thì còn ít và còn có lý do chính đáng, nhưng sau đó thì xảy ra gần như mỗi ngày mà toàn là những cuộc cãi vã không đâu ra đâu! Chuyện gì chúng tôi cũng có thể gây gổ với nhau được. Cuối cùng vợ tôi lấy cớ tôi hay uống rượu không lo kiếm việc làm và nộp đơn ly dị. Toà án phán mọi chuyện lỗi ở nơi tôi. Như ông biết đó, ở xứ này cứ 100 vụ ly dị là gần như 99 vụ đàn ông là người gây ra lỗi. Thế rồi vợ tôi được phép giữ đứa con gái và tôi phải trợ cấp nó cho đến khi nó đủ tuổi thành niên. Từ đó những việc làm kế tiếp của tôi bao nhiêu lương lãnh về, sau khi trừ chi phí trợ cấp cho con gái, còn thì chỉ đủ để tôi sống qua ngày mà thôi. Dù vậy tôi cũng cố gắng làm tròn bổn phận của mình và trợ cấp con gái tôi cho đến khi nó trưởng thành. Bây giờ nó đã có chồng và nghe nói đang sống tại một nơi nào đó ở Florida thì phải.
- Thế ông không gặp con gái thường xuyên sao? – Tôi hỏi chen vào khi thấy ông ngưng lại nửa chừng.
- Lần cuối tôi gặp nó lúc đó nó chưa có chồng, cách đây cũng hơn 10 năm rồi. Từ đó tôi không gặp nó nữa. Nhiều năm trước tôi nghe có người nói nó đã lập gia đình với một tay nào đó bán insurance và di chuyển về Florida. Như vậy cũng tốt. Xin Chúa ban phước lành cho vợ chồng nó.
- Con gái ông có biết ông gặp khó khăn như thế này không? Và có giúp đỡ gì cho ông không? – Tôi tò mò hỏi -
- Không. Nó hoàn toàn không biết - Bill nhún vai nói tiếp – Tôi cũng không cần nó phải giúp tôi. Nó cứ lo cho thân nó với chồng con nó là tốt rồi. Tôi nghĩ tôi OK.
Tôi không khỏi ái ngại nhìn Bill, gương mặt ông vẫn bình thản khi nói về người con gái duy nhất của mình:
- Ngoài cô con gái và người vợ trước ra, ông còn người thân nào không?
- Người thân của tôi hả? Còn chứ. Nhưng xin ông chờ tôi một chút, để tôi lấy thêm nước uống rồi trở lại kể tiếp cho ông nghe.
Không đợi tôi trả lời, Bill cầm ly giấy nước ngọt đã uống hết, đứng dậy đến chổ mấy bình nước ngọt bày sát vách tường và bắt đầu "refill" . Nhìn ông ta đang đứng lấy thêm nước ngọt và nghĩ về câu chuyện dỡ dang ông vừa kể, tôi thật khá ngạc nhiên với lối sống của người Mỹ. Tôi cứ tưởng ông ta không còn ai thân thuộc nên mới sa vào cảnh khó khăn đến thế. Đâu ngờ ông ta còn có con gái và người thân khác. Còn đang suy nghĩ lang mang thì Bill quay trở lại:
- Xin lỗi đã bắt ông đợi. Tôi đang kể đến đâu rồi nhỉ?
- Về người thân của ông….
- À. À. Người thân của tôi. – Ông chậm rãi uống nước ngọt – Chà! Hôm nay thật là thoải mái. Cám ơn ông Khaan. God Bless. Về người thân của tôi hả? Tôi hiện còn cô em gái đang sinh sống với chồng con ở Kentucky. Gia đình cô ta cũng OK. Thỉnh thoảng đi đâu ngang qua, tôi cũng có tạt qua ghé thăm vợ chồng cô ta. Ngoài ra, tôi có mấy cousins ở rải rác đâu đó tôi cũng không biết rõ nữa. Lâu quá rồi không gặp họ.
- Xin lỗi cho tôi hỏi thẳng câu này. Tại sao ông không kiếm một việc làm để đỡ phải vất vả?
- Đâu có ai muốn mướn tôi mà làm. Chắc ông nghĩ là tôi làm biếng không chịu đi kiếm việc làm phải không? Để tôi kể cho ông nghe tiếp. Sau cuộc hôn nhân lần đầu và sau nhiều năm trợ cấp cho con gái tôi đến khi trưởng thành. Cuối cùng tôi cũng thoát được sự ràng buộc của luật pháp để lo cho mình tôi thôi. Vào khoảng năm 1995- 1996 gì đó, tôi kiếm được một công việc tài xế xe tải lương rất khá, lại hợp với sở thích đi đây đi đó của tôi nữa. Cuộc sống của tôi sung túc dần và tôi nghĩ tới chuyện sống chung với một người đàn bà khác lần nữa. Cuối năm 1997, tôi gặp Christina trong một Country Club ở Dallas và chúng tôi mau chóng say mê nhau. Thú thật chưa có người đàn bà nào mà tôi chết mê chết mệt như Christina. Nàng có hai đứa con trai với một đời chồng trước. Hai đứa con trai này sống riêng với bạn gái, thỉnh thoảng mới về gặp nàng một lần. Sau một thời gian hẹn hò, chúng tôi quyết định chung sống với nhau. Chúng tôi mua một căn nhà nhỏ và sống thật hạnh phúc bên nhau ở một khu ngoại ô Dallas. Tôi vẫn còn giữ chân tài xế xe tải và Christina đang làm thư ký cho một kho hàng. Với lợi tức của hai chúng tôi phải nói là sống khá thoải mái. Tôi nghĩ là sau bao vất vả, cuối cùng Chúa cũng ban cho tôi một tình thương và mái ấm gia đình như ý muốn. Dự tính của hai đứa chúng tôi là ráng làm thêm vài năm nữa thì tôi sẽ thôi không lái xe tải và sẽ mở một cửa hàng nhỏ nào đó sống yên bình bên nhau. Nhưng…
Kể tới đây, giọng của Bill như chùn lại, lần đâu tiên tôi thấy đôi mắt ông biểu lộ một nổi buồn man mác. Ông ngưng lại nửa chừng, nhìn ra ngoài qua khung cửa kính tiệm Fried Chicken nơi có mấy con chim bồ câu từ đâu đang sà xuống trước bãi đậu xe tìm thức ăn. Nắng ở bên ngoài đã bớt đi cái gay gắt khi nãy. Một vài thực khách bước vào gọi những phần gà chiên mang về nhà cho buổi ăn chiều. Tôi nhìn Bill, biết ông đang xúc động, nên không dám làm kinh động ông. Thú thật cá nhân tôi như bị cuốn hút vào câu chuyện của ông già Mỹ này. Ở ông có một nét gì đó tôi thấy cảm thông lắm, điều này phải chăng do buổi nói chuyện ngày hôm nay có sức thuyết phục tôi về một câu nói ai đó đã từng nói: "Đàng sau mỗi một người, ai cũng đều có một tâm sự riêng." Tôi rất tò mò muốn biết câu chuyện của ông ta như thế nào, nhưng nhận thấy ông đang xúc động nên đành nén lại:
- Bill? Ông có sao không? Ông có muốn về chưa? Tôi sẽ chở và thả ông xuống bất cứ nơi nào ông muốn trong thành phố.
- Ồ không. Tôi không sao. Xin lỗi ông. Lâu quá không có dịp nhớ về chuyện cũ nên cảm thấy hơi xúc động. Tôi chưa kể ông nghe hết mà. Tôi sẽ kể ông nghe nếu ông không có bận gì. Rất cám ơn ông đã đối với tôi tốt đẹp thế này. Thật là một buổi chiều tuyệt vời. Đã lâu rồi tôi không có được một buổi chiều đẹp và cũng lâu lắm rồi không có ai đối tốt với tôi như vậy. Cám ơn ông. God Bless.
Tôi nói mấy câu khách sáo lại với ông và hỏi ông có muốn dùng gì thêm không. Ông cám ơn tôi lần nữa và bắt đầu kể tiếp câu chuyện dỡ dang:
- Tôi những tưởng sẽ có cuộc sống an lành bên Christina suốt cuộc đời còn lại với những dự tính tương lai rất bình dị như bao người dân lương thiện khác. Nhưng không ngờ những gì tôi tính toán chỉ là trong mơ mà thôi vì thực tế không bao giờ tôi có được những gì tôi đã mơ ước. Ông biết không. Tôi đâu có bao giờ ngờ vì cứ hay xa nhà trên những chuyến xe tải giao hàng xuyên bang… mỗi tuần chỉ về nhà 1, 2 ngày rồi lại đi tiếp. Khoảng thời gian trống vắng ở nhà một mình, Christina đã có bạn trai khác bù đắp vào. Khi tôi về thì nàng tiếp tôi ra điều yêu thương tôi lắm, nhưng hể khi tôi xa nhà thì nàng lại có người khác đến. Tôi vẫn cứ một mực làm ăn và không hề hay biết gì về chuyện này cho đến một hôm… vì chuyến xe tải đi giao hàng của tôi bị đình hoản theo yêu cầu của khách hàng, nên tôi trở về nhà… và bắt gặp ngay tại trận Christina với nhân tình của nàng ở trong phòng ngủ đang làm chuyện mà họ muốn làm. Tôi thật choáng váng với những gì phác giác được và thế là tôi điên tiết lên quất cho đôi gian phu dâm phụ một trận nên thân. Christina lúc đó chống cự lại tôi và lên tiếng bênh vực cho bạn trai của nàng nên càng làm cho tôi nổi điên hơn lên. Sau một cú tát của tôi Christina đã ngã vào con dao do chính nàng cầm lên hăm dọa tôi. Gã bạn trai của nàng lúc đó cũng nằm ngất ngư dở sống dở chết. Nhìn hiện trường, cõi lòng tôi hoàn toàn tan nát, nhưng đầu óc thì lại tỉnh táo vô cùng. Tôi gọi điện thoại 911 báo cáo sự việc xảy ra … Xe cảnh sát và cứu thương tới. Họ bắt tôi ngay sau đó và không may cho Chirstina đã chết trên đường đưa tới bệnh viện, còn thằng bạn trai của nàng thì chỉ bị thương nặng. Sau đó ra tòa… tôi bị khép vào tội cố ý hành hung người gây thương tích, kèm theo tội ngộ sát. Cuối cùng nhận bản án 9 năm về hai tội trạng này.
Tôi được thả về sau hơn 7 năm thụ án với hạnh kiểm tốt, tuy nhiên cuộc đời tôi thay đổi hẳn từ đó. Việc làm chẳng những khó kiếm vì ai nấy khi thấy lý lịch của tôi cũng đều né tránh. Tôi đã nộp đơn xin việc ở nhiều nơi, nhưng không chỗ nào nhận! Những việc làm tay chân họ cũng chỉ mướn tôi khi cần thiết 1, 2 ngày rồi thôi. Cuối cùng chính bản thân tôi cũng không còn muốn phấn đấu hoặc tha thiết đến chuyện kiếm việc làm nữa. Để làm gì? Khi người ta đã không muốn thuê mướn mình thì có đi van nài cũng vô ích! Từ đó, nếu ai cần mướn tôi làm gì thì tôi làm nấy. Còn không thì mỗi ngày với số tiền khách vãng lai bố thí cho, tôi cũng đủ sống rồi. Hoặc cùng lắm thì cũng có những nơi từ thiện giúp chúng tôi thực phẩm lây lất qua ngày cũng không sao. Bây giờ thú thật tôi không nghĩ gì nhiều cho bản thân nữa hết. Chúa muốn tôi thế nào thì tôi vâng lời thế đó, không bận tâm làm gì cho mệt. Xin ông đừng tìm cách khuyên lơn tôi. Nếu ông có lòng tốt hoặc thương hại, giúp tôi được chút gì, tôi hoan hỉ nhận lấy và cầu ơn Chúa ban phước cho ông. Nhưng xin đừng cố gắng khuyên tôi vì tôi sẽ không nghe đâu. Tôi tự biết tôi đang làm gì và bằng lòng với những gì mình đang làm.
Tôi im lặng nghe ông kể hết câu chuyện mà trong lòng cảm khái vô cùng. Thành thật mà nói, không đợi ông dặn trước. Nếu muốn khuyên một câu, tôi cũng không biết phải khuyên như thế nào nữa. Tôi nghĩ nên im lặng và tôn trọng ý của ông thì hơn. Có thể vì mình là người ngoài cuộc, nên không cảm nhận được hết cái phẩn uất của cuộc đời và những bất hạnh dành cho ông. Chúng tôi ngồi yên một lúc thật lâu. Sau khi kể xong câu chuyện đời mình, đôi mắt Bill có vẻ đăm chiêu hơn. Tôi nhìn ông và lái sang chuyện khác:
- Này Bill. Tại sao ông vẫn còn mang trên ngực áo huy hiệu lá cờ VNCH của chúng tôi?
Bill cúi xuống nhìn ngực áo của mình, miệng nở lại nụ cười hiền hoà như trước:
- Khi tôi đến VN tuổi còn rất trẻ, khái niệm về độc lập, tự do, chiến tranh, hoà bình tôi chưa rõ ràng lắm. Là một người lính, lệnh bảo như thế nào thì làm theo như thế đó. Quân đội mà! Nhưng thời gian chiến đấu tại VN, tôi đã thực sự hiểu rõ ý nghĩa của những điều này và thực sự trưởng thành nhiều. Tôi thấy rõ bản chất hiền hoà của người dân miền Nam ở đây và tại sao người dân miền Nam phải chiến đấu để bảo vệ cho sự Tự Do của họ. Tôi hiểu và thấy rõ ý thức hệ của hai miền Nam, Bắc ở VN khác nhau như thế nào và dần dần tôi ý thức được nhiệm vụ của mình và rất tự hào đã góp phần vào công cuộc bảo vệ Tự Do cho miền Nam VN. Ngay cả khi tôi bị thương xuýt bỏ mạng tại Khe Sanh và mãi cho tới bây giờ, tôi không mảy may hối tiếc chút nào cả vì tôi nghĩ tôi đã phục vụ cho đất nước tôi khi chiến đấu bảo vệ lý tưởng Tự Do tại chiến trường VN. Chỉ tiếc là chúng ta đã thất bại. Chúng ta đã thất bại bởi vì những dị biệt chính trị của các chính khách ở đất nước tôi cuối cùng đã thay đổi và nhượng bộ luôn chính sách ở chiến tranh VN . Chúng ta đã thất bại vì đường lối và ý muốn của các cấp lảnh đạo, nhưng những người lính chiến như tôi và ông thì không hề thất trận. Tôi không nghĩ thế. Cho tới giờ phút này, tôi vẫn hãnh diện về những gì đồng đội và cá nhân tôi đã làm ở VN. Chúng tôi chiến đấu vì một lý tưởng tốt. Tôi mang phù hiệu lá cờ VNCH như một tự hào đã có lần chiến đấu cho sự Tự Do của quốc gia này.
Tôi không tránh khỏi xúc động với những lời của Bill. Đây đúng là lời nói chân tình của một đồng minh đã từng sát cánh với quân đội VNCH trong lý tưởng bảo vệ Tự Do cho quê hương tôi:
- Cám ơn ông đã nói lên những lời nói khẳng khái vừa rồi. Lời nói của ông làm tôi kính phục và cảm thấy chúng tôi đã nợ ông và đất nước của ông quá nhiều trong nhiệm vụ bảo vệ lý tưởng Tự Do qua cuộc chiến ở VN trước đây. Ông nói đúng. Chúng ta thất bại vì có những dị biệt trong chính trường ở nước ông nhưng quả thật quân đội của Hoa Kỳ và quân đội VNCH của chúng tôi không hề thất trận.
Đột nhiên gương mặt Bill trở nên buồn bã và giọng nói chùn hẳn xuống:
- Tuy thế, chiến tranh VN đã để lại cho chúng tôi nhiều đau buồn mãi cho tới hôm nay. Trong trận đánh Khe Sanh mà tôi đã bị thương và may mắn được cứu sống, có hai người bạn thân thiết nhất của tôi đã tử trận. Mỗi năm vào ngày lễ Memorial Day, tôi đều về Washington DC nơi có tấm bia tưởng niệm các chiến sĩ đã bỏ mình trong chiến tranh VN. Tên hai người bạn nằm xuống của tôi được khắc trên đó. Mỗi năm vào ngày lễ này, tôi đều đến tưởng niệm hai người bạn tôi dưới tấm bia đó. Sắp tới lễ Memorial Day nữa rồi, nhanh thật. Gần tới ngày này là tôi mặc lại chiếc áo trận ngày xưa để tưởng nhớ tới những người đã ngã xuống và để chứng tỏ trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tôi vẫn là một Veteran trong chiến tranh VN.
Lời nói của Bill làm tôi sực nhớ sắp tới ngày lễ cựu chiến binh rồi. Ở Hoa Kỳ, ngày lễ này được tổ chức mỗi năm vào ngày thứ Hai cuối cùng của tháng 5. Memorial Day năm nay sẽ rơi vào ngày thứ Hai, 29 tây tháng 5 năm 2006. Tôi nói:
- Ông nói đúng. Chiến tranh đã để lại biết bao mất mát, đau buồn cho những người còn lại. Tôi cảm thông sâu sắc những gì ông vừa nói và thành thật chia buồn về sự mất mát hai người bạn thân của ông. Bao giờ ông sẽ đi Washington DC? Ông có đi diễn hành trong ngày lễ này không?
- Hai hôm nữa tôi sẽ đi. Ông nói diễn hành hả? – Bill lúc lắc đầu - Không. Tôi không cần những thứ đó. Trước đây tôi có tên trong hội Cựu Chiến Binh nhưng lâu rồi không còn liên lạc, sinh hoạt gì với hội nữa. Tôi chỉ mang đến cho hai bạn tôi hai cành hoa đặt dưới chân bức tường lưu niệm có khắc tên họ và ngồi tưởng nhớ lại những kỷ niệm xưa giữa tôi và họ khi còn ở chiến trường VN. Thế thôi! Tôi tự hứa sẽ đến thăm họ mỗi năm một lần nếu sức khoẻ tôi cho phép.
Tôi nhìn Bill, càng lúc càng kính phục ông hơn qua những gì ông nói:
- Hai hôm nữa ông sẽ đi à! Ông đi Washngton DC bằng phương tiện gì? Ông có trở về lại đây không?
Bill cười lớn, hàm râu quai nón rung rung theo tiếng cười:
- Dễ mà. Tôi sẽ đi bằng bất cứ phương tiện nào tôi có thể kiếm được. Quá giang, xe bus… đi tới đâu cũng sẽ có người giúp đỡ tôi cả. Ông đừng lo.
Ông nheo mắt nhìn tôi một cách hóm hỉnh rồi nói tiếp:
- Tôi đi đâu cũng sẽ gặp người tốt như ông mà, lo gì. Ông tin tôi đi. Tôi sẽ tới Washington DC đúng vào dịp lễ Memorial Day. Ở đó một vài ngày, sau đó lại lang thang. Ông biết đấy. Homeless như tôi thì ở đâu chẳng được. Có thể tôi sẽ về lại đây. Có thể sẽ đến một nơi nào đó tôi cũng chưa biết được.
Chúng tôi ra khỏi quán Golden Fried Chicken thì đã chiều lắm rồi. Nắng gần như tắt hẳn mặc dù mặt trời tháng Năm ở Texas như vẫn còn tiếc nuối chút ngày hè và còn lãng vãng đâu đó ở chân trời xa chưa chịu chìm xuống hết. Những con chim bồ câu tìm mồi trên bãi đậu xe lúc nãy đã bay đi đâu mất. Tôi hỏi Bill nơi ông muốn tôi chở trở về khi hướng xe ra phía xa lộ 35. Ngồi bên cạnh, Bill có vẻ thoải mái với không khí mát dần lên của máy lạnh trong xe. Ông luôn miệng cám ơn tôi về "một buổi chiều đẹp tuyệt vời" và lập đi lập lại nhiều lần hai chữ God Bless. Tôi tắp vào bãi đậu xe của một siêu thị ở góc ngã tư North Lamar và Braker Lane nơi Bill muốn tôi thả ông xuống. Tôi bước xuống xe, đặt vào tay Bill tờ giấy bạc $20 và bắt tay từ giả ông:
- Bill. Cám ơn ông. Hôm nay chính ông mới là người đã cho tôi một buổi chiều đẹp tuyệt vời qua câu chuyện của ông. Tôi xin chúc ông đi Washington DC được bình yên và gặp nhiều may mắn. Hy vọng chúng ta còn có dịp gặp lại nhau.
Hình ảnh Bill với cái túi đeo trên vai bước xa dần, lẩn khuất giữa những hàng xe trong bãi đậu xe của siêu thị Albertson khi màn đêm từ từ buông xuống và câu chuyện đời ông vẫn cứ bám theo tôi trên đường lái xe về nhà. Từ hôm đó đến nay, tôi không gặp lại Bill nữa. Ở ngã tư trên đường tôi đi làm về mỗi ngày, bây giờ có một người Mễ đứng bán hoa hồng cho những xe qua lại. Tuy nhiên như một thói quen, hể gần đến ngã tư này là tôi lại đưa mắt tìm xem Bill có đứng đó không. Hình ảnh người Mỹ già homeless ngày nào và câu chuyện của ông ta vẫn là một kỷ niệm khó phai mờ trong tôi. "May God Bless you, Bill."
|
| Category: | Books | | Genre: | Other | | Author: | truyen ngan |
Trên đê Yên Phụ một buổi chiều mùa hạ.
Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy, tưong muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sông đi.
Theo dòng nước đỏ lờ đờ, những thân cây, những cành khô từ rừng về nổi lềnh bềnh, như một dãy thuyền nhỏ liên tiếp chạy thật nhanh tới một nơi không bờ không bến.
Ðứng trên đê, bác phó nề Thức đưa mắt trông theo những khúc gỗ ấy tỏ ý thèm muốn, rồi quay lại, đăm đăm nhìn vợ, hỏi thầm ý kiến. Người vợ, ngắm sông, ngắm trời, lắc đầu thở dài, nói:
-- Gió to quá, mà đám mây đen kia ở chân trời đùn lên mau lắm. Mưa đến nơi mất, mình ạ !
Người chồng cũng thở dài, đi lững thững. Rồi bỗng dừng lại, hỏi vợ:
-- Mình thổi cơm chưa ?
Vợ buồn rầu đáp:
-- Ðã. Nhưng chỉ đủ cơm cho hai con ăn bữa chiều hôm nay.
Hai vợ chồng lại im lặng nhìn nhau... Rồi hình như cùng bị một vật, một định kiến nó thôi miên, nó kiềm áp, hai người đều quay lại phía sông. Những thân cây vẫn phăng phăng trôi giữa dòng nước đỏ.
Chồng mỉm cười, cái cười vơ vẩn, bảo vợ:
-- Liều !
Vợ lắc đầu không nói. Chồng hỏi:
-- Mình đã đến nhà bà Ký chưa ?
-- Ðã.
-- Thế nào ?
-- Không ăn thua. Bà ấy bảo có đem củi vớt đến, bà ấy mới giao tiền. Bà ấy không cho vay trước.
-- Thế à ?
Hai chữ "thế à" rắn rỏi như hai nhát bay cuối cùng gõ xuống viên gạch đặt trên tường đương xâỵ Thức quả quyết sắp thi hành một việc phi thường, quay lại bảo vợ:
-- Này ! Mình về nhà, trông coi thằng Bò.
-- Ðã có cái Nhớn, cái Bé chơi với nó rồi.
-- Nhưng mình về thì vẫn hơn, cái Nhớn nó mới lên năm, nó trông nom sao nổi hai em nó.
-- Vậy thì tôi về... Nhưng mình cũng về chứ đứng đây làm gì ?
-- Ðược, cứ về trước đi, tôi về sau.
Vợ Thức ngoan ngoãn, về làng Yên Phụ.
<><><><><><><><><><><><><><><><><><><> Tới nhà, gian nhà lụp xụp, ẩm thấp, tối tăm, chị phó Thức đứng ở ngưỡng cửa, ngắm cái cảnh nghèo khó mà đau lòng.
Lúc nhúc trên phản gỗ không chiếu, ba đứa con đang cùng khóc lóc gọi bu. Thằng Bò kêu gào đòi bú. Từ trưa đến giờ, nó chưa được tí gì vào bụng.
Cái Nhớn vỗ em không nín cũng mếu máo, luôn mồm bảo cái Bé:
-- Mày đi tìm bu về để cho em nó bú.
Nhưng cái Bé không chịu đi, nằm lăn ra phản vừa chưởi vừa kêu.
Chị phó Thức vội chạy lại ẵm con, nói nựng:
-- Nao ôi ! Tôi đi mãi để con tôi đói, con tôi khóc.
Rồi chị ngồi xuống phản cho con bú. Song thằng Bò, ý chừng bú mãi không thấy sữa, nên mồm nó lại nhả vú mẹ nó ra mà gào khóc to hơn trước.
Chị Thức thở dài, hai giọt lệ long lanh trong cặp mắt đen quầng. Chị đứng dậy, vừa đi vừa hát ru con. Rồi lại nói nựng:
-- Nao ôi ! Tôi chả có gì ăn, hết cả sữa cho con tôi bú !
Một lúc thằng bé vì mệt quá, lặng thiếp đi. Hai đứa chị, người mẹ đã đuổi ra đường chơi để được yên tĩnh cho em chúng nó ngủ.
Chị Thức lẳng lặng ngồi ôn lại cuộc đời đã qua. Bộ óc chất phát của chị nhà quê giản dị, không từng biết tưởng tượng, không từng biết xếp đặt trí nhớ cho có thứ tự. Những điều chị nhớ lại chen chúc nhau hỗn độn hiện ra như những hình người vật trên một tấm ảnh chụp. Một điều chắc chắn, chị ta nhớ ra một cách rành mạch, là chưa bao giờ được hưởng chút sung sướng thư nhàn như những người giàu có.
Năm mười hai, mười ba, cái đĩ Lạc, tên tục chị phó Thức, xuất thân làm phu hồ. Cái đời chị, nào có chi lạ. Ngày lại ngày, tháng lại tháng, năm lại năm...
Năm chị mười bảy, một lần cùng anh phó Thức cùng làm một nơi, chị làm phu hồ, anh phó ngõa. Câu nói đùa đi, câu nói đùa lại, rồi hai người yêu nhau, rồi hai người lấy nhau.
Năm năm ròng trong gian nhà lụp sụp ẩm thấp, tối tăm ở chân đê Yên Phụ, không có một sự gì êm đềm đáng ghi chép và hai cái đời trống rỗng của hai con người khốn nạn, càng khốn nạn khi họ đã đẻ luôn ba năm ba đứa con.
Lại thêm gặp buổi khó khăn, việc ít, công hạ, khiến hai vợ chồng loay hoay, chật vật suốt ngày này sang ngày khác vẫn không đủ nuôi thân, nuôi con.
Bỗng mùa nước mặn năm ngoái, bác phó Thức nghĩ ra được một cách sinh nhai mới. Bác vay tiền mua một chiếc thuyền nan, rồi hai vợ chồng ngày ngày chở ra giữa dòng sông vớt củi. Hai tháng sau, bác trả xong nợ, lại kiếm được tiền ăn tiêu thừa thải.
Vì thế năm nay túng đói, vợ chồng bác chỉ mong chóng tới ngày có nước to.
Thì hôm qua, cái ăn, trời bắt đầu đưa đến cho gia đình bác.
Nghĩ đến đó, Lạc mỉm cười, se sẽ đặt con nằm yên trên cái tã, rồi rón rén bước ra ngoài, lên đê, hình như quả quyết làm một việc gì. Õ Õ
<><><><><><><><><><><><><><><><><><><>
Ra tới đê, Lạc không thấy chồng đâu.
Gió vẫn to, vù vù gầm thét dữ dội và nước vẫn mạnh, réo ầm ầm chảy quanh như thác. Lạc ngước mắt nhìn trời; da trời một màu đen sẫm.
Chị đứng ngẫm nghĩ, tà áo bay kêu phần phật như tiếng sóng vỗ mạnh vào bờ. Bỗng trong lòng nẩy ra một ý tưởng, khiến chị hoảng hốt chạy vụt xuống phía đê bên sông.
Tới chỗ buộc thuyền, một chiếc thuyền nan, Lạc thấy chồng đương ra sức níu lại cái gút lạt. Chị yên lặng đăm đăm đứng ngắm đợi khi chồng làm xong công việc, mới bước vào thuyền hỏi:
-- Mình định đi đâu ?
Thức trừng mắt nhìn vợ, cất tiếng gắt:
-- Sao không ở nhà với con ?
Lạc sợ hãi ấp úng:
-- Con... nó ngủ.
-- Nhưng mình ra đây làm gì ?
-- Nhưng mình định đem thuyền đi đâu ?
-- Mình hỏi làm gì ? Ði về !
Lạc bưng mặt khóc. Thức cảm động:
-- Sao mình khóc ?
-- Vì anh định đi vớt củi một mình, không cho tôi đi.
Thức ngẫm nghĩ, nhìn trời, nhìn nước, rồi bảo vợ:
-- Mình không đi được... nguy hiểm lắm.
Lạc cười:
-- Nguy hiểm thời nguy hiểm cả... Nhưng không sợ, em biết bơi.
-- Ðược !
Tiếng "được" lạnh lùng, Lạc nghe rùng mình. Gió thổi vẫn mạnh, nước chảy vẫn dữ, trời mỗi lúc một đen. Thức hỏi:
-- Mình sợ ?
-- Không.
Hai vợ chồng bắt đầu đưa thuyền ra giữa dòng, chồng lái, vợ bơi. Cố chống lại sức nước, chồng cho mũi thuyền quay về phía thượng du, nhưng thuyền vẫn bị trôi phăng xuống phía dưới, khi nhô, khi chìm, khi ẩn, khi hiện trên làn nước phù sa, như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt chết đuối trong nghiên son.
Nhưng nửa giờ sau, thuyền cũng tới được giữa dòng. Chồng giữ ghì lái, vợ vớt củi.
Chẳng bao lâu thuyền đã gần đầy, và vợ chồng sắp sửa quay trở vào bờ thì trời đổ mưa... Rồi chớp nhoáng như xé mây đen, rồi sấm sét như trời long đất lở.
Chiếc thuyền nan nhỏ, đầy nước, nặng trĩu.
Hai người cố bơi nhưng vẫn bị sức nước kéo phăng đi...
Bỗng hai tiếng kêu cùng một lúc:
-- Trời ơi !
Thuyền đã chìm. Những khúc củi vớt được đã nhập bọn cũ và lạnh lùng trôi đi, lôi theo cả chiếc thuyền nan lật sấp...
Chồng hỏi vợ:
-- Mình liệu bơi được đến bờ không ?
Vợ quả quyết:
-- Ðược !
-- Theo dòng nước mà bơi... Gối lên sóng !
-- Ðược ! Mặc em !
Mưa vẫn to, sấp chớp vẫn dữ. Hai người tưởng mình sống trong vực sâu thẳm. Một lúc sau, Thức thấy vợ đã đuối sức, liền bơi lại gần hỏi :
-- Thế nào ?
-- Ðược ! Mặc em !
Vợ vừa nói buông lời thì cái đầu chìm lỉm. Cố hết sức bình sinh, nàng mới ngoi lên được mặt nước. Chồng vội vàng đến cứu. Rồi một tay xốc vợ một tay bơi. Vợ mỉm cười, âu yếm nhìn chồng. Chồng cũng mỉm cười. Một lúc, Thức kêu:
-- Mỏi lắm rồi, mình vịn vào tôi, để tôi bơi ! Tôi không xốc nổi được mình nữa.
Mấy phút sau, chồng nghe chừng càng mỏi, hai cánh ta rã rời. Vợ khẽ hỏi:
-- Có bơi được nữa không ?
-- Không biết. Nhưng một mình thì chắc được.
-- Em buông ra cho mình vào nhé ?
Chồng cười:
-- Không ! Cùng chết cả.
Một lát -- một lát nhưng Lạc coi lâu bằng một ngày -- chồng lại hỏi:
-- Lạc ơi ? Liệu có cố bơi được nữa không ?
-- Không ?... Sao !
-- Không. Thôi đành chết cả đôi.
Bỗng Lạc rung khẽ nói:
-- Thằng Bò ! Cái Nhớn ! Cái Bé ! ... Không ? ... Anh phải sống !
Thức bỗng nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa. Thì ra Lạc nghĩ đến con đã lẳng lặng buông tay ra để mình xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ. Õ Õ
<><><><><><><><><><><><><><><><><><><>
Ðèn điện sáng rực xuống bờ sông. Gió đã im, sóng đã lặng. Một người đàn ông bế một đứa con trai ngồi khóc. Hai đứa con gái nhỏ đứng bên cạnh. Ðó là gia đình bác phó Thức ra bờ sông từ biệt lần cuối cùng linh hồn kẻ đã hy sinh vì lòng thương con.
Trong cảnh bao la, nước sông vẫn lãnh đạm chảy xuôi dòng
|
|